Núi Thái Sông Nguồn

Bài "Thờ cúng tổ tiên" (LĐCT số trước) là trích trong một bài của tôi tham gia cuộc Hội thảo của CLB Kinh Dịch Thăng Long (Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng văn hóa Á Đông UNESCO) tại Văn miếu - Quốc Tử Giám ngày 19.8.2012: Bàn về phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt.

Tại hội thảo, theo GS Hoàng Tuấn - giám đốc Trung tâm, hầu như không có dân tộc nào trên thế giới có tục thờ cúng tổ tiên và có bàn thờ gia tiên như dân tộc Việt Nam. Kể cả Trung Quốc, một nước láng giềng rộng lớn có nền văn hóa giống ta, nhưng cũng không có tục thờ cúng tổ tiên như ta. Đây là một sản phẩm tâm linh thuần Việt. Điều đặc biệt hơn nữa là tục thờ cúng tổ tiên hầu như tuyệt đối thống nhất từ Bắc chí Nam và đối với cả cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài, từ Á sang Âu, mà không cần một giáo lý thống nhất nào cả. Tục lệ này như đã bám rễ vào trong tâm khảm mọi người Việt. Những nhà truyền giáo đạo Thiên chúa trước kia bắt người theo đạo phải bỏ bàn thờ ông bà, tổ tiên, trong nhà chỉ có cây Thánh giá thờ Chúa. Do đó mà việc truyền đạo rất khó khăn, vì người Việt không dễ gì lại phải bỏ bàn thờ ông bà. Tòa Thánh Vatican đã phải sửa lại: Không cấm người theo đạo phải bỏ bàn thờ ông bà, mà bàn thờ tổ tiên có thể đi đôi với cây Thánh giá. Từ đó việc truyền đạo dễ dàng hơn.

 

Núi Thái Sông Nguồn

Núi Thái Sơn

Vậy lịch sử tục thờ cúng tổ tiên của người Việt bắt nguồn từ đâu? Sau đây là ý kiến của chúng tôi tại hội thảo. Có nhiều khám phá về nguồn gốc người Việt, theo tôi kết luận sau đây trong cuốn sách "Tìm cội nguồn qua Di truyền học" của nhà văn, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy (NXB Văn học 2011) là có thể tin cậy: Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Đông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp, khám phá dần từng bước sau này trở thành văn minh lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt - mà hạt nhân là Lạc Việt - hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông, Viêm Đế. Kế tục Thần Nông là Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân ở phía Nam. Thời kỳ này người Mông ở phía Bắc, liên tục xâm lấn, thường xuyên xảy ra tranh chấp. Khoảng năm 2600 trước Công nguyên, trong trận Trác Lộc, Đế Lai tử trận, người Mông thắng, tôn Hoàng Đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận theo Âu Cơ con gái Đế Lai chạy xuống nước Xích Quỷ phía nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về mái nhà xưa trên bờ biển Thái Bình Dương, nay là Việt Nam. Cái giai đoạn mà sử sách gọi là Nam tiến này, thực chất là một cuộc di cư khổng lồ qua vùng núi và vùng biển, một thử thách lịch sử suốt hàng ngàn năm. Những người cuối cùng trụ lại được trên mảnh đất hình chữ S này thực sự trở thành tinh hoa giống loài Việt. Chính là qua cuộc lữ hành bất tuyệt trở về đất cũ này, có một nhu cầu tự nhiên là phải ghi lại dấu vết tổ tiên, từ đây mà hình thành tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Câu ca dao Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, trong nguyên bản của nó, nước trong nguồn, chính là "sông Nguồn". Núi Thái Sơn, sông Nguồn là những nơi cư trú đầu tiên của người Việt trong cuộc di cư lần thứ nhất lên phía Bắc. Uống nước nhớ nguồn là minh triết Việt bắt nguồn từ nguyên lý Kinh Dịch Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh vạn vật. Trong sách “Văn minh vật chất của người Việt” (Phan Cẩm Thượng, NXB Tri Thức 2011) cái bàn thờ còn để lại dấu vết đến ngày nay là một bịch đắp bằng đất ở gian chính giữa giáp tường hậu (Bịch là vật dụng bằng đất, có thành, trong đựng thóc). Trên bịch đất đặt bài vị và bát hương. Về sau, khi kinh tế phát triển thì bàn thờ gia tiên cũng thêm nhiều đồ thờ, cái bịch thờ ban đầu biến thành cái bàn gỗ có chạm khắc hoa văn, trên bày các bộ tam sự, ngũ sự, dân ta gọi là "phú quý sinh lễ nghĩa". 

Theo Báo Lao động

Tags: